Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013
Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013
“Vùng đất thiêng” trong khu rừng lim
Kỳ thú rừng ngàn tuổi
Khu rừng còn có tên là rừng lim đền Cao, hiện còn hàng chục gốc lim cổ thụ, mỗi gốc mang một hình thế nhuốm vẻ rêu phong thời gian. Rừng lim đền Cao có từ bao giờ, người cao tuổi nhất làng cũng không nhớ được. Chỉ nghe các cụ truyền nhau, nó có từ lâu lắm rồi. Cụ Dương Văn Luyện, một người dân địa phương cho biết: "Từ khi tôi còn là đứa trẻ con chăn trâu, cắt cỏ đã thấy rừng lim cổ thụ thế này. Hỏi bố tôi, ông nội tôi thì mọi người đều nói nhiều đời trước người ta đã thấy rừng lim cổ thụ như thế".
Có người cho rằng, tuổi của rừng lim có thể đạt 300 – 400 năm nhưng có cụ già khẳng định, rừng lim có đến 800 – 900 năm tuổi. Theo nhận định của một nhà sử học, rừng lim có thể được trồng vào thời Tiền Lê.
Cũng có thông tin cho rằng 54 cây lim còn sót lại trong khu rừng hôm nay là một phần của rừng lim trước kia trải rộng đến tận phía Quảng Ninh. Sở dĩ có nhận định này vì hiện nay, ở khu vực huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh, cách đó hàng chục km) còn có 2 cây lim rừng cổ thụ cùng họ với những cây cổ thụ trong rừng lim đền Cao. Nhiều người già cho rằng 2 cây đó trước từng thuộc vào rừng lim. Và rất có thể, đây là "hậu duệ" của rừng lim mà Ngô Quyền sai quân chặt cây, vót nhọn đầu rồi bọc sắt cắm xuống cửa sông Bạch Đằng làm nên chiến thắng lịch sử đánh tan quân Nam Hán năm 938…
Khu rừng còn có tên là rừng lim đền Cao, hiện còn hàng chục gốc lim cổ thụ, mỗi gốc mang một hình thế nhuốm vẻ rêu phong thời gian. Rừng lim đền Cao có từ bao giờ, người cao tuổi nhất làng cũng không nhớ được. Chỉ nghe các cụ truyền nhau, nó có từ lâu lắm rồi. Cụ Dương Văn Luyện, một người dân địa phương cho biết: "Từ khi tôi còn là đứa trẻ con chăn trâu, cắt cỏ đã thấy rừng lim cổ thụ thế này. Hỏi bố tôi, ông nội tôi thì mọi người đều nói nhiều đời trước người ta đã thấy rừng lim cổ thụ như thế".
Có người cho rằng, tuổi của rừng lim có thể đạt 300 – 400 năm nhưng có cụ già khẳng định, rừng lim có đến 800 – 900 năm tuổi. Theo nhận định của một nhà sử học, rừng lim có thể được trồng vào thời Tiền Lê.
Cũng có thông tin cho rằng 54 cây lim còn sót lại trong khu rừng hôm nay là một phần của rừng lim trước kia trải rộng đến tận phía Quảng Ninh. Sở dĩ có nhận định này vì hiện nay, ở khu vực huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh, cách đó hàng chục km) còn có 2 cây lim rừng cổ thụ cùng họ với những cây cổ thụ trong rừng lim đền Cao. Nhiều người già cho rằng 2 cây đó trước từng thuộc vào rừng lim. Và rất có thể, đây là "hậu duệ" của rừng lim mà Ngô Quyền sai quân chặt cây, vót nhọn đầu rồi bọc sắt cắm xuống cửa sông Bạch Đằng làm nên chiến thắng lịch sử đánh tan quân Nam Hán năm 938…
Giải mã "đền thiêng"
Khu rừng nổi tiếng không chỉ vì những cây gỗ ngàn năm tuổi, mà còn
được nhiều người biết đến vì ngôi đền tọa lạc trong khu vực. Bước qua
113 bậc tam cấp, người ta sẽ đặt chân lên ngôi đền cổ kính, thấp thoáng
trong vẻ u tịch của rừng Lim. Đền Cao tọa lạc trên đỉnh núi Thiên Bồng
thuộc dãy núi Voi, trước mặt là dòng Nguyệt Giang mềm mại uốn lượn ôm ấp
trọn vùng đất này. Theo truyền thuyết, đó là vùng đất thiêng, nơi tụ
hội của 99 ngọn núi lớn nhỏ.
Trong tâm trí của người dân địa phương, đền Cao là một ngôi đền thiêng. Cụ Dương Văn Luyện (80 tuổi), Trưởng ban khánh tiết đền Cao cho biết: Ngày xưa, đền Cao chỉ là một ngôi cổ miếu nhưng theo quan niệm của người địa phương, đền là nơi linh thiêng vì lưu giữ các sắc phong liên quan đến 5 vị tướng người địa phương ngày xưa.
Theo đó, truyền thuyết cho rằng vào thời Đinh, có hai vợ chồng họ Vương sống với nhau đã lâu nhưng chưa có con. Khi đến vùng đất An Lạc ngày nay, ông bà thấy đây là một vùng đất bình yên, thuần hậu, nên đã ở lại sinh cơ lập và sinh được 5 người con. 5 người con lớn lên học hành binh thư chữ nghĩa rất tinh thông. Năm 981, quân Tống xâm lấn bờ cõi nước ta. Nhà vua truyền hịch đi khắp nơi tìm người hiền tài ra phò vua giúp nước. Lúc này, năm người con họ Vương đang có tang cha mẹ nên không dám về triều ứng thí. Đến khi nhà Vua đem quân đi đánh giặc qua vùng này, đã cho lập đồn trại đóng quân tại đây và chiêu dụng năm chị em. Khi ấy, 5 vị tướng cầm quân, giáp chiến một trận cực kì ác liệt. Quân giặc thua to. Chưa nhận tiệc khao mừng thì 5 ngài đều thăng hoá về trời. Nhân dân kéo đến xem thì đã thấy mối đất đùn thành những ngôi mộ lớn liền lập đền hương khói. Đền có từ ngày ấy.
"Báu vật" vùng An Lạc
Có lẽ vì tấm lòng tri ân với người xưa giúp nước nên người dân địa phương đã "thần thoại hóa" những câu chuyện xung quanh khu rừng và ngôi đền này. Rừng được "nhân cách hóa" như người thật.
Trong câu chuyện với chúng tôi, nhiều người dân kể lại những tình huống thực hư mờ ảo về "vùng đất thiêng". Nào là thời chiến tranh chống Pháp, đất An Lạc cũng từng chịu nhiều trận càn của giặc, hàng trăm quả đại bác, hàng chục tấn bom, phá tan hoang làng xóm nhưng không quả nào rơi vào ngôi đền và rừng lim. Rồi đến thời máy bay Mĩ ném bom miền Bắc, có 8 quả bom trút xuống khu vực đền nhưng đều rơi ra đồng bãi…
Thực hư về "rừng thiêng" như thế nào chưa rõ, nhưng theo một người già ở làng, cánh rừng lim nhờ đó không bị người ta xâm hại, dù gỗ lim có giá thuộc loại cao ngất ngưởng trên thị trường. Thời bao cấp, một số cán bộ xã định khai thác rừng lim đóng bàn, ghế. Khi các cụ trong thôn phát hiện ra, họ cử người ôm từng gốc cây để ngăn cản. Các cụ tuyên bố: "Có cưa thì cưa vào chúng tôi, chứ không được động đến rừng lim".
Cụ Dương Thị Phu cho hay: "Thậm chí, đến cả củi khô rụng trong rừng, cho cũng không ai lấy, bán không ai mua, nhà đền phải nhặt bó thành bó rồi đốt ở đền". Và như thế, rừng lim ngàn tuổi đã trở thành một "báu vật" của người địa phương.
Trong tâm trí của người dân địa phương, đền Cao là một ngôi đền thiêng. Cụ Dương Văn Luyện (80 tuổi), Trưởng ban khánh tiết đền Cao cho biết: Ngày xưa, đền Cao chỉ là một ngôi cổ miếu nhưng theo quan niệm của người địa phương, đền là nơi linh thiêng vì lưu giữ các sắc phong liên quan đến 5 vị tướng người địa phương ngày xưa.
Voi đá trước cửa đền Cao trên núi Thiên Bồng
Ngôi đền càng trở nên bí ẩn hơn khi
người ta chỉ biết thông tin đến thế, chứ không biết đền là nơi thờ phụng
ai. "Vì lời nguyền giữ "bí mật" nên khi khấn, chỉ được lẩm nhẩm gọi các
ngài là "bề trên", là "đại vương", chứ tuyệt nhiên không một ai biết sự
tích và tên tuổi của các "ngài"", cụ Diệm nói.
Bí mật đã được tiết lộ khi năm 1988, cụ Dương Văn Diệm, thủ nhang
trưởng ban khánh tiết mới họp bàn với các cụ già trong làng, quyết định
mở các sắc phong đã được đời nối đời lưu giữ trong cung cấm. Khi đó,
ngôi đền mới được xếp hạng Di tích lịch sử và một phần thân thế của các
danh tướng được thờ phụng trong đền được hé lộ.Theo đó, truyền thuyết cho rằng vào thời Đinh, có hai vợ chồng họ Vương sống với nhau đã lâu nhưng chưa có con. Khi đến vùng đất An Lạc ngày nay, ông bà thấy đây là một vùng đất bình yên, thuần hậu, nên đã ở lại sinh cơ lập và sinh được 5 người con. 5 người con lớn lên học hành binh thư chữ nghĩa rất tinh thông. Năm 981, quân Tống xâm lấn bờ cõi nước ta. Nhà vua truyền hịch đi khắp nơi tìm người hiền tài ra phò vua giúp nước. Lúc này, năm người con họ Vương đang có tang cha mẹ nên không dám về triều ứng thí. Đến khi nhà Vua đem quân đi đánh giặc qua vùng này, đã cho lập đồn trại đóng quân tại đây và chiêu dụng năm chị em. Khi ấy, 5 vị tướng cầm quân, giáp chiến một trận cực kì ác liệt. Quân giặc thua to. Chưa nhận tiệc khao mừng thì 5 ngài đều thăng hoá về trời. Nhân dân kéo đến xem thì đã thấy mối đất đùn thành những ngôi mộ lớn liền lập đền hương khói. Đền có từ ngày ấy.
"Báu vật" vùng An Lạc
Có lẽ vì tấm lòng tri ân với người xưa giúp nước nên người dân địa phương đã "thần thoại hóa" những câu chuyện xung quanh khu rừng và ngôi đền này. Rừng được "nhân cách hóa" như người thật.
Trong câu chuyện với chúng tôi, nhiều người dân kể lại những tình huống thực hư mờ ảo về "vùng đất thiêng". Nào là thời chiến tranh chống Pháp, đất An Lạc cũng từng chịu nhiều trận càn của giặc, hàng trăm quả đại bác, hàng chục tấn bom, phá tan hoang làng xóm nhưng không quả nào rơi vào ngôi đền và rừng lim. Rồi đến thời máy bay Mĩ ném bom miền Bắc, có 8 quả bom trút xuống khu vực đền nhưng đều rơi ra đồng bãi…
Thực hư về "rừng thiêng" như thế nào chưa rõ, nhưng theo một người già ở làng, cánh rừng lim nhờ đó không bị người ta xâm hại, dù gỗ lim có giá thuộc loại cao ngất ngưởng trên thị trường. Thời bao cấp, một số cán bộ xã định khai thác rừng lim đóng bàn, ghế. Khi các cụ trong thôn phát hiện ra, họ cử người ôm từng gốc cây để ngăn cản. Các cụ tuyên bố: "Có cưa thì cưa vào chúng tôi, chứ không được động đến rừng lim".
Cụ Dương Thị Phu cho hay: "Thậm chí, đến cả củi khô rụng trong rừng, cho cũng không ai lấy, bán không ai mua, nhà đền phải nhặt bó thành bó rồi đốt ở đền". Và như thế, rừng lim ngàn tuổi đã trở thành một "báu vật" của người địa phương.
VGT(Theo Đời sống & Pháp luật)
Đọc thêm tại: http://www.vietgiaitri.com/xa-hoi/doi-song/2011/03/vung-dat-thieng-trong-khu-rung-lim/#ixzz2UZUb38Cj
Truyền thuyết về quái thú hút máu
Chupacabra, theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "con quỷ hút máu dê" - một sinh vật bí ẩn được cho là xuất hiện lần đầu tiên tại Puerto Rico năm 1995.
Huyền thoại về quái thú chupacabra chuyên hút máu dê
lan truyền khắp các quốc gia châu Mỹ và thậm chí lan đến nước Nga,
Ukraina và cả Philippines. Con vật này được cho là thuộc loài hữu nhũ họ
chó, to cỡ con gấu nhỏ. Trước những thông tin từ nhiều phía, các nhà
sinh vật học và giới chức quản lý đời sống hoang dã đã cố gắng điều tra
nhưng cuối cùng vẫn không tìm được bằng chứng tin cậy về sự tồn tại của
loài quái thú này.
| Đầu của một con vật mà người dân địa phương gọi là Chupacabra tại thành phố Cuero, bang Texas, Mỹ. Ảnh: AP. |
Câu chuyện bắt đầu vào tháng 3/1995 ở Puerto Rico. 8
con cừu được phát hiện chết vì vết thương sâu nơi vùng cổ và hoàn toàn
cạn kiệt máu. Vài tháng sau, Madelyne Tolentino trình báo với chính
quyền địa phương rằng bà đã nhìn thấy một sinh vật lạ ở thành phố
Canovanas của Puerto Rico và cho là "hung thủ" giết chết 150 gia súc địa
phương.
Theo mô tả của bà Tolentino, con thú cao từ 1,2 đến
1,5 m, mắt đỏ giống người ngoài hành tinh, móng vuốt dài và trên lưng có
nhiều gai nhọn. Năm 1975, những vụ việc tương tự xảy ra ở thị trấn Moca
góp phần cho lời đồn đại về “El Vampiro de Moca" (ma cà rồng ở Moca).
Ban đầu, người ta chỉ nghi ngờ những vụ súc vật bị giết chết là do nghi
thức của một giáo phái Satan. Về sau, những cái chết xảy ra ngày càng
nhiều trên đảo Puerto Rico với dấu tròn trên thân mình súc vật bị cạn
kiệt máu.
Diễn viên kiêm doanh nhân Silverio Perez ở Puerto Rico
là người đặt tên cho quái thú là chupacabra sau nhiều vụ súc vật chết
đầu tiên đăng tải trên báo chí. Sau đó, hàng loạt vụ xuất hiện của
chupacabra diễn ra ở các nước khác như Cộng hòa Dominica, Argentina,
Bolivia, Colombia, Honduras, El Salvador, Nicaragua, Panama, Peru,
Brazil, Chile, Mỹ và Mexico.
Sự mô tả phổ biến nhất về chupacabra cho biết quái thú
nhảy cách khoảng như con kangaroo. Ít nhất có một nhân chứng cho biết
con thú nhảy cao đến 6 m, có lưỡi dài như cái nĩa và những chiếc răng
nanh to. Một số nhân chứng mô tả quái thú có đôi mắt màu đỏ rực kỳ dị,
thân mình không có lông và có móng vuốt.
Không giống như các loài dã thú thông thường,
chupacabra được cho là chỉ hút máu súc vật sau khi dùng răng tạo ra 2
cái lỗ nhỏ. Nhưng, trong một nghiên cứu Benjamin Radfort - biên tập tạp
chí Skeptical Inquirer và tác giả cuốn sách "Truy tìm Chupacabra: Sự
thật, huyền thoại và truyền thuyết về quái thú hút máu" - kết luận sự mô
tả của nhân chứng Madelyn Tolentino ở Puerto Rico dựa theo sinh vật
ngoài hành tinh gọi là Sil trong bộ phim kinh dị khoa học viễn tưởng
"Species" (Các loài) mà bà xem trước đó. Ngoài ra, Redford nhấn mạnh
những vụ súc vật bị hút máu đến chết vẫn chưa được khẳng định qua khám
nghiệm xác chết.
Cuối tháng 10/2010, nhà sinh học Barry O'Connor ở Đại
học Michigan, Mỹ nhận định, tất cả những báo cáo về "chupacabra" ở Mỹ
thật ra đơn giản chỉ là loài sói đồng cỏ (tên Latinh là Canis latrans,
nhỏ hơn chó sói) bị ghẻ lở khắp mình do nhiễm ký sinh trùng Sarcoptes
scabiei nên rất yếu đuối. Sói đồng cỏ này tương tự như những mô tả về
chupacabra: ít lông, da dày và bốc mùi hôi khủng khiếp.
Theo lý giải của O'Connor, quái thú thường tấn công dê
"bởi vì chúng không có khả năng tự vệ, dễ săn bắt hơn những loài chạy
nhanh như thỏ hay hươu. Sói đồng cỏ có thể tấn công con mồi nhưng không
ăn thịt và nạn nhân của chúng sẽ chết vì xuất huyết nội hay sốc tuần
hoàn máu”.
Chuyên gia vào cuộc
Tháng 7/2004, một chủ trại gia súc gần San Antonio,
bang Texas, Mỹ giết chết một con thú giống như chó tấn công thú nuôi của
trại. Con thú này về sau được xét nghiệm ADN và kết luận đó là sói đồng
cỏ mắc bệnh ghẻ lở do ký sinh trùng. Vài tháng sau, thêm hai xác thú
được tìm thấy cùng khu vực và các nhà sinh học Đại học Texas kết luận đó
là sói đồng cỏ bị ghẻ lở nặng.
Tháng 4/2006, tờ MosNews của Nga đưa tin những con
chupacabra phát hiện ở nước này lần đầu tiên. Các nhân chứng ở miền
Trung nước Nga cho biết, con thú giết hàng chục con gà tây và cừu rồi
hút máu. Sự việc kỳ lạ trên đã thúc giục các chuyên gia vào cuộc.
| Truyền thuyết về chupacabra được mô tả qua tranh vẽ. |
Theo nhà nghiên cứu về những hiện tượng huyền bí của
Nga - Vadim Chernobrov - vùng đất được cho là chupacabra thường xuất
hiện nằm ở thành phố Kharkov của Ukraina và những vùng lân cận của Nga,
kể cả nhiều khu vực ở Belarus và Ba Lan. Sau đó, có tin những cuộc tấn
công tương tự như của chupacabra xảy ra ở thành phố Moskva của Nga -
hàng chục gia súc bị hút hết máu với những vết cắn kỳ lạ. Ngoài ra, có
ít nhất hai lần quái thú bí ẩn được người Nga mô tả giống như kangaroo
với cái đầu cá sấu đã tấn công người song không gây thương tích nặng.
Tháng 8/2006, một người đàn ông tên là Michelle
O'Donnell sống ở Turner, bang Maine (Mỹ), mô tả một con quái thú có răng
nanh giống như chó nằm chết bên vệ đường. Con thú có lẽ bị xe tông và
chưa được xác định rõ ràng do chim kền kền đã "dọn sạch" nó. Những bức
ảnh chụp con thú được công bố rộng rãi sau đó cho thấy nó không giống
chó hay sói trong khu vực.
Tháng 8/2007, bà Phylis Canion sống ở Cuero, bang
Texas và những người láng giềng phát hiện xác ba con thú lạ ở gần nhà
bà. Sau đó, Canion chụp hình ba con thú và giữ đầu một con trong tủ lạnh
trước khi đưa đi xét nghiệm ADN. Canion cho biết gần 30 con gà trong
trại nuôi của bà bị chết do mất máu trong nhiều năm - một yếu tố khiến
Canion kết nối xác của ba con thú với truyền thuyết về chupacabra.
Nhưng chuyên gia X-quang John Young kết luận con thú
trong bức ảnh chụp của Canion thật ra là loài cáo xám Mỹ mắc bệnh ghẻ lở
rất nặng. Nhưng, qua xét nghiệm ADN, các nhà sinh học Đại học San
Marcos xác định con thú đó là sói đồng cỏ. Tuy nhiên, giống sói đồng cỏ
này khác ở chỗ nó có màu da xanh xám, không lông và có răng nanh to.
Ngày 8/8/2008, Phó cảnh sát trưởng Brandon Riedel ở
hạt DeWitt, bang Texas, tình cờ quay phim một con vật lạ đang chạy trên
đường gần Cuero bằng camera hành trình trên ôtô. Con thú to cỡ con chó
sói nhưng không có lông, mõm dài và hai chân trước ngắn hơn hai chân
sau. Tuy nhiên, Cảnh sát trưởng Jode Zavesky cho rằng con thú cùng loài
với sói đồng cỏ được xác định bởi các nhà nghiên cứu ở Đại học San
Marcos vào tháng 11/2007. Đoạn phim video sau đó được đưa vào loạt phim
truyền hình có tên gọi "Thật hay giả: Hồ sơ về những sự việc huyền bí".
Tháng 9/2009, Đài truyền hình CNN của Mỹ cho phát một
đoạn phim video cho thấy hình ảnh cái đầu của một con thú lạ và mọi
người nghi ngờ đó có thể là chupacabra. Tháng 7/2010, các nhân viên kiểm
soát động vật ở hạt Hood, bang Texas, báo cáo đã bắn chết con thú lạ
nhưng khi xét nghiệm ADN kết luận đó là chó sói lai có dấu hiệu mắc bệnh
ghẻ lở và có ký sinh trùng bên trong cơ thể.
Ngày 18/12/2010, ông Mark Cothren ở hạt Nelson, bang
Kentucky, bắn chết một con thú lạ và chụp hình gửi đến các tờ báo. Theo
những bức ảnh của Cothren, con thú có hai tai to, đuôi dài và chỉ to cỡ
con mèo nhà. Xác con thú được Cothren chuyển giao cho Viện Nghiên cứu cá
và tài nguyên hoang dã Kentucky để tiến hành phân tích ADN. Câu chuyện
gần đây nhất xảy ra vào ngày 4/7/2011, lúc đó một người dân tên là Jack
Crabtree sống ở hồ Jackson thuộc bang Texas bắt gặp một con thú kỳ quái ở
vườn sau nhà và tin đó là chupacabra trong truyền thuyết.
Câu chuyện của Jack Crabtree sau đó được đưa tin trên
các đài truyền hình Mỹ CNN và MSNBC. Phóng viên Ed Lavandera của CNN mô
tả chupacabra là "Bigfoot (Chân to) của văn hóa Mỹ Latinh" và nhận định
"Chupacabra cũng là biểu tượng cho nỗi sợ hãi bất cứ thứ gì không tồn
tại". Sau vụ việc liên quan đến quái thú hút máu ở Cuero, truyền thuyết
về chupacabra nhận được sự chú ý của cả thế giới.
Chupacabra bước vào làng giải trí
Cuối cùng, chupacabra trở thành đề tài khai thác cho
làng giải trí và một số cuốn sách do sức lan tỏa quá mạnh của quái thú
hút máu. Một số cuốn sách cung cấp sự giải thích khoa học cho hiện tượng
trong khi số khác chú trọng khai thác khía cạnh huyền bí của quái thú
để thu hút người đọc hiếu kỳ. Chupacabra cũng xuất hiện trong một số bộ
phim như là “Scooby-Doo và Quái thú ở Mexico”, “Chupacabra: Dark
Seas”...
Thậm chí, ban nhạc rock Super Frry Animals cũng có một
bài hát mang tên "Chupacabras" trong album "Radiator" năm 1997. Trong
loạt phim "The X-Files" có một phần dành cho đề tài chupacabra. Quái thú
hút máu còn xuất hiện trong video game "Red Dead Redemption: Undead
Nightmare". Loạt phim hoạt hình Negima cũng được mô tả nhiều lần quái
thú chupacabra. Các chương trình truyền hình như "The Walking Dead" và
"Ugly Americans" cũng khai thác đề tài chupacabra.
Không chỉ có thế, chupacabra còn được khai thác mạnh
để kinh doanh ăn theo như là các tranh ảnh, vật lưu niệm hay áo thun có
in hình quái thú. Thậm chí, một công ty du lịch Mỹ còn giới thiệu sản
phẩm thú vị gọi là "du lịch Mỹ Latinh săn quái thú chupacabra" và dĩ
nhiên những du khách có máu phiêu lưu mạo hiểm ùn ùn kéo đến đăng ký
tham gia.
Theo An ninh thế giới
NHỮNG LỄ TẾT VIỆT NAM
Tết
Nguyên Đán (Tết Cả) là Lễ Hội lớn nhất trong các Lễ Hội truyền thống
Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới.
Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn
cội, giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây)
và tình nghĩa xóm làng ...
* Tết Nguyên Đán có từ bao giờ?
Theo
Nguyễn Đình Khang, nguồn gốc Tết Nguyên Đán, hay nói ngắn hơn là Tết có
từ đời Ngũ Đế, Tam Vương. Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng mẫu đen, nên
chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần.
Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm.
Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết.
Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày Tết khác nhau.
Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày Tết khác nhau.
Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày Tết vào một tháng nhất định: tháng Dần.
Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười.
Cho
đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày
Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau,
trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết
nữa.
Đến
đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống
Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê,
ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loại
Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.
Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy.
Dân
tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ Lễ Tiết. Có Tiết
Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, TrungThu
...
Dựa
theo tài liệu sưu tầm trên Internet và của trang Web Hà Phương Hoài,
chúng tôi lần lượt giới thiệu tóm lược những cái Tết trong năm nói trên:
* Tết Khai Hạ (Mồng Bảy tháng Giêng)
Người giàu khai hạ, tớ khai bị
Hết rượu cho nên mới ngủ khì (Vô danh)
Tết
Khai Hạ có nghĩa là Tết mở đầu một ngày vui để chào đón một ngày Xuân
mới. Theo cách bói toán của người xưa thì tuy tháng đầu năm, ngày mồng
Một ứng vào Gà, mồng Hai: Chó, mồng Ba: Lợn, mồng Bốn: Dê, mồng Năm:
Trâu, mồng Sáu: Ngựa, mồng Bảy: Người, mồng Tám: Lúa.
Trong
tám ngày đầu năm, hễ ngày nào khô ráo, sáng sủa thì giống nào thuộc về
ngày ấy, có năm được tốt. Cho nên, đến ngày mồng Bảy thấy trời nắng ráo
thì người ta tin rằng cả năm người được mạnh khoẻ, gặp nhiều may mắn tốt
lành. Mồng Bảy hạ cây nêu để "bế mạc" Tết Nguyên Đán thì người ta mở
ngày Tết Khai Hạ để mong mỏi một năm dài tốt lành, vui vẻ.
"Lễ
vật quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng". Đó là ngày trăng tròn
đầu tiên của năm mới, là Tết rằm tháng Giêng hay Tết Thượng Nguyên. Tết
này phần lớn tổ chức tại chùa vì ngày rằm tháng Giêng còn là ngày vía
Phật tổ Adiđà. Thiện nam, tín nữ đi lễ rất đông.
* Tết Hàn Thực (Mồng ba tháng ba)
Hàn
thực có nghĩa là đồ ăn nguội. Gốc Tết này vốn ở Trung Quốc thời Xuân -
Thu cổ đại. Tích cũ kể: Vua Văn Công nhà Tấn khi gặp cảnh long đong hoạn
nạn được người hiền sĩ Giới Từ Thôi hết lòng phù hộ. Khi vua Văn Công
đói quá, Giới cắt thịt đùi mình nấu cháo dâng vua ăn. Trải qua 19 năm
trời nay trú Tề, mai náu Sở, một ngày Văn Công lại về làm vua Tấn. Mọi
người có công giúp vua đều được ban thưởng nhưng rủi thay vua lại quên
mất Giới Từ Thôi đang cùng mẹ ở ẩn trong núi Điền Sơn. Khi vua Tấn nhớ
ra, cho người vào tìm, mời mãi Giới không chịu rời núi. Vua bèn cho đốt
rừng, hy vọng Giới sẽ ra, nhưng Giới Tử Thôi đã cùng mẹ già chịu chết
cháy trong đó. Vua vô cùng thương xót Giới, cho lập đền thờ trên núi. Và
cứ mỗi năm vào ngày mồng Ba tháng Ba, ngày giỗ Giới Tử Thôi, có nước
lại tổ chức cúng ông. Hôm đó, kiêng đốt lửa, ăn thì dùng đồ nguội đã nấu
sẵn từ hôm trước.
Từ
thời Thăng Long Đại Việt, nhân dân ta đã ăn Tết này. người ta làm bánh
trôi, bánh chay, thay cho đồ nguội, cúng gia tiên là chính, chứ ít ai
biết đến ông Giới Từ Thôi.
* Tiết Thanh Minh (Mồng chín tháng Ba)
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. (Nguyễn Du)
Thanh
minh có nghĩa trời độ ấy mát mẻ quang đãng. Ta cũng nhân dịp ấy mà đi
thăm mộ những người trong dòng họ đã mất. Tết thanh minh là lễ tảo mộ.
Đi thăm mộ thấy có rậm thì phát quang đất khuyết thì bồi đắp, rồi về nhà
thắp hương cúng gia tiên.
* Tết Đoan Ngọ Mồng 5 Tháng 5
Còn gọi là Tết Đoan Dương cho nên mới có câu thơ:
Chưa ăn bánh tết Đoan Dương
Áo bông chẳng dám khinh thường cởi ra.
Ở
nước ta, Tết Đoan Ngọ được coi trọng, xếp vào hàng thứ hai sau Tết
Nguyên Đán. Vì vậy các cụ thường nói "Mồng 5 ngày Tết". Học trò tết
thầy, còn rể tết bố mẹ vợ... quanh năm cũng chỉ tập trung vào hai Lễ Tết
đó.
* Tết Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy)
Tiết tháng bảy ma dầm sùi sụt
Toát hơi mây lạnh buốt xương khô (Nguyễn Du)
Tết
rằm tháng Bảy có tên khác là Tết Trung Nguyên, người xưa gọi là ngày
"xá tội vong nhân". Do đó vào ngày này, tại các chùa thờ phật thường làm
chay chân tế và cầu kinh Vu Lan. Còn các nhà thì bày cỗ cúng gia tiên,
đốt vàng mã và các đồ dùng bằng vàng mã để người ở âm ty dùng.
* Tết Trung Thu (Rằm tháng Tám)
Tết
của trẻ con nhưng người lớn cũng gặp nhau để trà, tửu, ngâm thơ, ngắm
trăng gọi là "thưởng nguyệt". Cổ thưởng nguyệt (trông trăng) có chiếc
bánh nướng hình trăng tròn, bưởi, hồng và nhiều thứ hoa quả khác. Đáng
chú ý là các đồ chơi của các em như tiến sĩ giấy, voi, đèn kéo quân,
ngựa hồng, các loại mặt nạ, đèn ông sao .... và tối đến trước khi phá cỗ
là trò chơi múa rồng, múa sư tử, xem đèn kéo quân.
* Tết Trùng Cửu (Mồng chín tháng Chín)
Tết
này có nguồn gốc ở Trung Quốc, ra đời vào thời kỳ thịnh hành của đạo
Lão. Chuyện xưa kể rằng: có người tên là Hoàn Cảnh muốn học được phép
tiên. Học mãi đến ngày cuối cùng thì thầy bảo hãy may mỗi người một cái
túi, hái hoa cúc bỏ vào rồi lên núi ẩn náu. Quả nhiên ngày hôm ấy, mồng
chín tháng Chín mưa to, ngập hết cả mặt đất. người chết đuối rất nhiều,
còn gia đình Hoàn Cảnh thì vẹn nguyên.
Thời
kỳ Lý - Trần, nho sĩ Việt Nam theo tích đó cũng tổ chức leo núi, uống
rượu hoa cúc gọi là thưởng Tết Trùng Dương. Bây giờ ít có nơi tổ chức
Tết Trùng Cửu.
* Tết Trùng Thập (Mồng mười tháng Mười)
Tết
này các ông thày thuốc thường làm rất lớn. Theo sách cổ Dược lễ thì vào
mồng mười tháng Mười, các thầy thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết
được sắc tứ thời (Xuân-Hạ-Thu-Đông) và dùng thật tốt. Ở nông thôn gọi là
Tết Cơm Mới, có bánh dày, chè kho, gà luộc dùng cúng tổ tiên mừng được
mùa lúa.
* Tết Ông Táo (Tết hai mươi ba tháng Chạp)
Tương
truyền là ngày ông Táo (Táo quân, vua bếp) lên chầu trời để tâu việc
làm ăn cả xứ của mỗi gia đình với Ngọc Hoàng. Chuyện cũ kể rằng: Xưa có
hai vợ chồng vì nghèo quá phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy được chồng
giàu, một hôm đang đốt hàng mã thì thấy một kẻ đến ăn xin. Người vợ nhận
ra người ăn xin ấy chính là chồng xưa của mình, thương cảm bèn đem cho
rất nhiều gạo thóc, tiền bạc. Người chồng mới nghi ngờ vợ, vợ ức quá đâm
đầu vào bếp chết. Thương vợ cũ người ăn xin cũng đâm đầu vào lửa chết
theo. Ân hận và đau khổ, người chồng mới cũng nhảy vào bếp lửa đó chết.
Thượng đế nghe chuyện thương cảm ba con người có nghĩa kia, bèn phong họ
làm vua bếp.
Ca dao cổ có câu:
Thế gian một vợ một chồng
Chẳng như vua bếp hai ông một bà.
Theo
tích ấy, vào ngày 23 tháng Chạp, người ta mua hai mũ đàn ông một mũ đàn
bà bằng hàng mã cùng một con cá chép để vua bếp lên chầu trời. Cá chép
thường là cá tươi, rất to, khi cúng, cúng cả con ... Và bây giờ mỗi khi
vẽ ông Táo, người ta thường vẽ ông đội mũ cỡi cá bay trong mây, nhưng
rất tiếc lại không có .... quần.
Bởi vậy mới có bài thơ vui:
Hăm ba ông táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi rằng sao chướng vậy
Tâu rằng: Hạ giới nó duy tân.
Ông
Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục
hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày 23 tháng Chạp để tâu bày
mọi việc dưới trần thế với Ngọc Hoàng. Bởi thế cho nên, trong ngày này,
mọi gia đình người Việt Nam đều làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa "ông Táo
". Ngày ông Táo về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên
Đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi
đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, và cắm hoa ở những nơi
trang trọng để chuẩn bị đón tết.
Cùng
với tranh, hoa quả là yếu tố tinh thần cao quý thanh khiết của người
Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa Ðào, miền Nam có hoa
Mai, hoa Ðào, hoa Mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia
đình người Việt Nam. Ngoài cành Ðào, cành Mai, mấy ngày Tết người ta còn
"chơi" thêm cây Quất chi chít trái vàng mọng, đặt ở phòng khách như
biểu tượng cho sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc...
Tết
trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bành trái đều
không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nải
chuối xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. Còn ở miền Nam,
mâm ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một
loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm
khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc.
Và sau cùng, chúng tôi xin giới thiệu đến quý thính giả ý nghĩa Tết Nguyên Đán và những nét đặc thù của ngày Lễ Tết này:
* Tết Nguyên Đán
Ngày Tết ở đây tức là nói tắt Lễ Tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm), còn gọi là Tết Cả vì thế to nhất.
Các
Lễ Tết trên có nơi tổ chức có nơi không, với nhiều hình thức nội dung
khác nhau. Còn Lễ Tết Nguyên Đán thì khắp nơi trong cả nước, từ đầu núi
đến cuối sông, từ thành thị đến nông thôn, từ biên cương đến hải đảo đều
tổ chức gần giống nhau. Chỉ khác nhau ở mức sang hèn của từng gia đình
hay các loại hoa quả, bánh trái, cơm nước của từng vùng, miền.
Tết
Nguyên Đán trước hết là Tết của gia đình. Theo tập quán, dầu ai bất cứ ở
đâu, làm bất cứ nghề gì, hàng năm mỗi khi Tết đến cũng mong muốn tha
thiết được trở về nhà sum họp gia đình trong ba ngày Tết. Tết Việt Nam
là ngày nhớ nhau, ngày hội đoàn tụ, đoàn viên ấm cúng.
* Ngày Tết có những phong tục gì?
Ngày
Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong
như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ
tới già ai ai cũng biết, sau đây là một vài phong tục đáng được duy trì
phát triển:
Tống Cựu Nghênh Tân: Cuối
năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng
làng xóm dọn dẹp nhà thờ, lau giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang
trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.
Con
cháu trong nhà từ phút giao thừa trở đi được nhắc nhở là không được
nghịch nghợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy... anh chị, cha mẹ
cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng,
vui vẻ niềm nở, chúc nhau những điều tốt lành.
Đối
với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải,
điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng
hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng
gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước,
nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều
tốt lành.
Hái lộc, xông nhà, chúc Tết, mừng tuổi: Ai
cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh
khoẻ, thành đạt hơn năm cũ. Nhiều nhà tự đi hái lộc ở chốn đình chùa,
nơi tôn nghiêm về nhà, tự xông nhà hay dặn trước người "nhẹ vía" mà mình
thích đến xông nhà. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng dè
dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra
chuyện gì không hay lại đổ tại mình "nặng vía". Chính vì vậy, sáng mùng
Một ít khách.
Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước
hết con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để
mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè
thân thích. Lời chúc Tết thường là sức khoẻ, phát tài phát lộc. Nhìn
chung trong những ngày đầu năm, người ta thường kiêng không nói tới điều
rủi ro hoặc xấu xa.
Phong tục ta ngày Tết biếu quà, tỏ ân nghĩa tình cảm, học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu v..v…
Lễ Mừng Thọ: ở
các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày
xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường
tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu tuần... Ngày Tết cũng là dịp
mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.
Cũng vào dịp đầu Xuân, người có chức tước khai ấn, học
trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy
ngày. Sĩ, Nông, Công, Thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần
cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thông, làm ăn suôn sẻ. Sau ngày
mùng Một, dù có mải vui tết cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày".
Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì giao
thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu.
Cờ bạc: Ngày
xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ
bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần
bên nồi bánh chưng thì người bố cho phép vui chơi. Tam cúc, cờ gánh, cờ
nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Ðến
lễ khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu
bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm ….
Vì sao có tục kiêng hốt rác đổ đi trong ba ngày Tết:
Trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ
Thanh Thảo được thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyên, đem về nhà
được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mùng Một Tết, Âu Minh đánh
nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể
từ đó kiêng không hốt rác ngày Tết cũng vì sự tích này.
Trên đây là điểm qua mười một Lễ Tết trong năm.
Cũng
có rất nhiều vần thơ ”trào phúng” liên quan đến Tết Nguyên Đán. Tôi
từng nghe quý cụ nói "mỗi người Việt là một thi sĩ". Thật vậy, người
Việt Nam chúng ta hầu như ai cũng có tâm hồn thi sĩ, không nhiều thì ít
và chuyện gì cũng làm thơ được, đặc biệt cho ngày Tết thì vô số ...
nhưng tôi chỉ giới thiệu với quý độc giả vài bài tiêu biểu:
* Năm hết Tết đến, bài thơ sau đây phản ảnh rõ nét những chuyện xảy ra trong năm:
Một năm chia mười hai kỳ
Thiếp ngồi thiếp tính làm gì chẳng ra
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai rõi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về.
Tháng sáu em đi buôn chè
Tháng bảy tháng tám trở về đong ngô.
Chín mười cắt rạ đồng mùa
Một chạp vớ được anh đồ dài lưng.
Anh ăn, rồi anh lại nằm.
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
Chẳng thà lấy chú lực điền
Gạo bồ thóc đống, còn phiền nỗi chi!
* Mượn Tết để làm bài thơ tả tình, tả chân về người đàn bà
Tháng giêng là tiết mưa xuân
Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra
Đàn bà như hạt mưa sa
Mưa đâu mát đấy biết là đâu hơn.
Tháng năm, tháng sáu mưa trận mưa cơn
Bước sang tháng bảy rập rờn mưa ngâu
Thương thay cho vợ chồng Ngâu
Cả năm chỉ mới gặp nhau một lần....
* Cuối cùng, bài thơ ngắn sau đây cho ta thấy hạnh phúc, quan hệ vợ chồng rất quan trọng…
Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.
Ai ơi cùng vợ cùng chồng
Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay!
2013
là Năm Con Rắn, Quý Tỵ. Để kết thúc bài giới thiệu tổng quát về Tết,
như là một hình thức "Tống Cựu Nghinh Tân" (tiễn đưa năm Nhâm Thìn, chào
đón Quý Tỵ) người viết xin được trích dẫn vài câu ca dao sưu tầm về
"Nàng Rắn" theo truyền khẩu nhân gian.
Phản
ảnh sự trêu ghẹo lãng mạn vì muốn quyến rũ đàn ông nên "nàng Rắn" sẵn
sàng chịu trách nhiệm trong các liên hệ, nhận lãnh "hậu quả":
Con rắn không chân, con rắn biết,
Đá có ngọc ẩn, thì đá hay,
Tội thì thiếp chịu, vạ chi lây tới chàng ?
Diễn tả nỗi mơ ước thầm kín của người phụ nữ, mong được gặp người thương:
Con quạ đen con cò trắng
Con ếch ngắn, con rắn dài
Em trông anh trông mãi, trông hoài
Trông cho thấy mặt thấy mày mới yên
hoặc để ví von "sự quan hệ giữa nam - nữ":
Con rắn không chưn đi năm rừng bảy rú
Con gà không vú nuôi chim mười con
Phải chi nhan sắc em còn
Anh vô chốn đó chịu lòng mẹ cha.
"Rước voi giầy mả tổ" thường đi đôi vối câu ca dao sau đây là
Cõng
rắn (có lẽ đúng hơn Bắt rắn về) cắn gà nhà! Mục đích phê phán những kẻ
phản bội lại nhân dân, tổ quốc, đem giặc hay ngoại bang về sát hại đồng
bào, điển hình như hành động ký kết dâng đảo Hoàng Sa cho Tàu cộng ngày
14-09-1958 của Phạm văn Đồng và nhóm chóp bu csVN đã bị người Việt khắp
nơi lên án từ nhiều năm qua.
Vì
"Rắn" thích một cuộc sống bình yên, chọn sự yên tĩnh nên Ca dao Việt
Nam diễn tả "sự nghi ngờ chàng hay nàng muốn ve vãn người trong mộng"
rất thâm thúy, đầy lãng mạn tính:
Con chi rột rẹt sau hè,
Hay là con rắn mối tới ve con chuột xù?
Mục đích phê phán những kẻ phản bội,
Và để khen tặng ai khéo ăn nói, dễ thuyết phục người khác, có câu:
Nói rắn trong lỗ bò ra!
Sau
hết, người viết cũng xin lưu ý một điều quan trọng liên quan đến tình
duyên là người bạn đời của "Rắn" giống như một phần thưởng "Rắn" giành
được sau thời gian dài thầm mong ước vì thế "Rắn" trở nên ghen tuông và
thậm chí bảo vệ người thương. Cho nên đừng bao giờ phản bội "người tuổi
Tỵ" vì một khi con "Rắn" bị phản bội sẽ trả thù ghê gớm lắm!
Tuổi Tỵ hạp với Tuổi Dậu (con Gà) và tuổi Sửu (con Trâu)!
Ngược lại tuổi Tỵ kỵ (khắc) với tuổi Dần (con Cọp), tuổi Thân (con Khỉ) và tuổi Hợi (con Heo).
Trước thềm năm mới, xin kính chúc quý độc giả một Năm Quý Tỵ 2013: “AN KHANG THỊNH VƯỢNG và HẠNH PHÚC”.
Nguồn : Lê Ngọc Châu & LTCG
Nhật Ký Hành Quân Trung Đội
Gần tới ngày tốt nghiệp thì bỗng có lệnh khóa tôi phải chia 2,
nửa khóa ra trường thiếu úy, nửa khóa phải ở lại dùi mài thêm 2 năm
nữa! Tin sét đánh ngang tai, tôi như ngồi trên đống lửa, không biết số
phận sẽ lọt vào nửa nào? Nếu phải ở lại quân trường thêm 2 năm nữa thì
ra trường “chết sướng hơn”. Nhưng nhờ trời thương, tôi nằm trong danh
sách tốt nghiệp ra trường sau 2 năm và trời thương lần thứ hai là chọn
được đơn vị mình ưng ý là Binh Chủng TQLC, và hên lần thứ ba là được
chọn về Trâu Điên. Nhưng lần thứ tư thì …không vui, vì bị về ĐĐ.1 là gặp
ông đại đội trưởng Cần Thơ (CT) Tô Văn Cấp mà tin đồn rằng ổng chẳng dễ
chịu chút nào. ĐĐP là Tr/Úy Nguyễn Quốc Chính dẫn tôi trình diện CT,
ổng có nước da của Bao Chuẩn, thêm bộ ria đen là tôi biết tin đồn không
sai. CT ngắn gọn:
_ Chú theo đại đội phó xuống nhận bàn giao trung đội, đã có sổ tay ghi chép chưa?
Như vậy là tôi làm trung đội trưởng ngay mà không bị
hưởng quy chế “OJT”, tôi mong và sẵn sàng nhưng hơi bị bất ngờ khi ổng
hỏi cuốn sổ tay. Thấy tôi ấp úng, ổng giải thích:
_Với tôi, mỗi trung đội trưởng phải có một cuốn sổ
tay để trên túi áo, trong đó ghi danh sách quân số, đặc biệt là gia cảnh
vợ con của mỗi quân nhân trong trung đội, thừa giấy thì ghi những lệnh
và chi tiết nào cần nhớ. Chưa có phải không? Vậy thì cầm tạm cuốn sổ này
đi.
Đưa tay đón cuốn sổ mà lòng tôi thầm nghĩ: “khó thở
với ông đại đội trưởng này chứ không phải chơi”. Anh Chính dẫn tôi đi
nhận Trung Đội của Chuẩn Úy Hà, Hà bị thương đang nằm bệnh viện. Nhìn
những Trâu Điên quân phục và súng ống đứng chào mà tôi thật sự bị khớp,
nhưng may mắn có anh Chính hướng dẫn và Trung Đội Phó là Tr/Sĩ I Mạnh
vui vẻ làm tôi an tâm phần nào. Sực nhớ có cuốn sổ, tôi lôi ra ghi chép
ngay tại chỗ và hình như những cặp “sừng trâu” gật gù làm tôi thêm can
đảm.
Cuốn sổ tay theo tôi đi hành quân và đã giúp tôi nhớ
nhiều điều hữu ích, và cũng nhờ đó mà tôi còn giữ được những dòng nhật
ký hành quân này.
Ngày 23/12/67 về trình diện TĐ.2. Hưởng lễ Giáng Sinh
đầu tiên tại đơn vị ngày 24, 25 qua ngày 26/12 chuẩn bị đi hành quân,
Tr/Úy Chính và TSI Mạnh hướng dẫn sắp xếp mọi việc.
Ngày 27/12/1967: TĐ.2/TQLC được không vận bằng C.130
từ phi trường TSN/SG xuống phi trường Vĩnh Long, đóng quân tại xã Tân
Ngãi, huyện Châu Thành, Vĩnh Long. Sáng 28/1/67, đổ quân tại kinh Tổng
Đốc Phương, Tây-Bắc Cai Lậy, 3 ngày bình yên.
Chiều 30/12/67: Vừa đóng quân xong thì Cần Thơ gọi
các trung đội trưởng đến họp, lệnh 1 ngày cơm vắt, sẵn sàng tại bãi bốc
lúc 7AM ngày hôm sau. Trung đội của tôi đi đầu, MT là kinh Cái Thia, vẽ
phóng đồ lên bản đồ. CT cho tôi biết là Tr/Úy Chính ĐĐP không đi với
trung đội tôi nữa.
Trong 3 ngày lội vừa qua, anh Chính luôn bên cạnh
tôi, chỉ dẫn từng chi tiết trên bản đô và địa thế. Như vậy là mai trung
đội tôi phải nhẩy đầu tiên xuống muc tiêu mà không có ĐĐP kèm nữa làm
tôi lo lắng, cầu mong bình an.
Sáng 31/12/1967, 7AM sẵn sàng tại bãi bốc, vừa yên vị
trên trực thăng tôi ngạc nhiên thấy anh Chính nhẩy lên theo, ngồi cùng
với tôi ở chiếc trực thăng thứ hai. Muốn hỏi anh lý do nhưng cánh quạt
trực thăng ồn quá.
Trực thăng vừa đáp xuống ruộng lúa, nước cao ngập đầu
gối, đạn từ bìa kinh bắn ra, tiểu đội Tr/Sĩ Nhị xuống đầu tiên có mấy
anh em đã bị bắn gục, tiểu đội trưởng Nhị bị thương, tôi còn đang loay
hoay thì anh Chính hô nằm sát xuống ruộng, núp vào bờ, lúa cao ngập đầu,
anh ra hiệu đưa máy cho anh liên lạc và rồi anh gục xuống! Có lẽ
antenna lá lúa cao hơn ngọn lúa nên lộ mục tiêu. Anh dạy bảo tôi kinh
nghiệm trận mạc vừa tròn 4 ngày và bây giờ anh đi! Nếu anh không đi kèm
tôi thì chuyện gì xẩy ra? Đấy là chỗ của tôi.
Sau vài đợt khu trục cánh quạt AD6, rồi PB, mục tiêu
khói lửa mù trời, chúng tôi trườn bò lê lết bám được vào bờ kinh, ổn
định tình hình, tiếp tục chiến đấu, tiếp tục tải thương và địch đã rút
lui. Tới chiều tối, cánh B do TĐP Đà Lạt chỉ huy gồm ĐĐ.1 và ĐĐ.3 vừa
đóng quân xong thì cánh A của TĐT Đồ Sơn và các ĐĐ.2, ĐĐ.4 và CH bị tấn
công. Tin cho biết người bạn cùng khóa là Lê Văn Lệ bị trọng thương, anh
ruột của Lệ là Lê Văn Thể cũng bị luôn. Có lệnh cánh B tiếp viện cho
cánh A, CT bảo tôi cho chôn tất cả vật dụng nặng xuông hố rồi cấp tốc di
chuyển bì bõm dưới sình lầy trong đêm. CT sợ tôi nản chí, bèn vỗ vai
tôi: “cố lên”. Gần sáng mới bắt tay được với cánh A, VC đã tan hàng.
Phạm vi một trung đội trưởng tôi chỉ biết đến thế
thôi, khi quay lại vị trí đóng quân tối qua để lấy sắc đeo lưng và vật
dụng nặng, đi xuyên qua mục tiêu, tôi đã thấy xác VC rải rác khắp nơi,
một cái xác đứng dưới hố, nhưng không có đầu bị Hạ Sĩ Tám kéo lên…
Thấy CT ngồi trên nón sắt, kéo Ruby liên tục, biết anh đang nghĩ gì, tôi hỏi:
Thấy CT ngồi trên nón sắt, kéo Ruby liên tục, biết anh đang nghĩ gì, tôi hỏi:
_ Sao anh đổi lệnh, bảo anh Chính đi với tôi?
_ Trước khi đi chuyến này, Chính vừa cưới vợ, cô Lựu,
chiều qua thấy Chính thở dài có vẻ bồn chồn nên anh bảo Chính đi với
ban chỉ huy đại đội, nhưng rồi thấy chú mới quá nên Chính zoọc lên đi
với trung đội đầu. Tình đồng đội ngoài mặt trận là thế đấy. Sống chết
với TQLC là thế đấy.
Ngày 1/1/68 đến ngày 28/1/68: Hành quân quanh vùng
Cai Lậy, Đồng Tháp Mười, bình yên. Đóng quân tại rạch Bà Tồn rồi di
chuyển sâu vô 2 bên QL4 đề yểm trợ an ninh cho dân Vùng 4 chuyển hàng
hóa về Sài Gòn trong dịp tết Mậu Thân.
Ngày 29/1/68: Di chuyển về quận Cai Lậy, đóng quân
đọc theo 2 bên bờ sông. Ngày 30/1/68 tức 30 Tết, liên hoan, cái Tết đầu
tiên ngoài đơn vị. Tôi bâng khuâng nghĩ đến anh Chính và mấy binh sĩ vừa
hy sinh ở kinh Cái Thia. Nếu anh Chính không đi với tôi và tôi gặp nạn
như anh Chính thì giờ này, ngày Tết gia đình tôi nghĩ sao nhỉ?
Ngày 1/2/68 tức mồng 2 Tết Mậu Thân: Tin tức cho biết
VC tấn công khắp nơi ở Thủ Đô Saigon, sáng sớm mồng 2 Têt, trực thăng
Chinook bốc Trâu Điên từ Cai Lậy thả xuống ngay trong sân Bộ T.T.M. ĐĐ.1
tấn công VC tại trường SN quân đội, TT Ấn Loát v.v.. phòng thủ đêm ngay
trong TTM. Đêm khuya, trung đội tôi phát giác có 1 bóng đen bò vào
tuyến, tôi báo CT, ổng cho lệnh đừng bắn mà phải bắt sống. Tưởng bắt
sống được VC trong TTM, ai dè đó là một quân nhân thuộc phòng TQT/TTM
trốn VC nay bò ra. May mắn cho anh ta.
Ngày 3/2/68: Di chuyển ra khỏi TTM, đặt thuộc quyền
xử dụng của BTL Cảnh Sát, bao vây tấn công VC ở khu vực chùa Ấn Quang và
đường Trấn Nhân Tôn. Nơi đây trung đội của Kiều Công Cự thuộc ĐĐ.4 đã
bắt được 1 VC, hắn tên Bẩy Lốp.
Ngày 6/2, ĐĐ.1 được lệnh đi giải tỏa đồn Cảnh Sát ở
Chợ Lớn vì đang bị VC chiếm, CT cho lệnh tôi tấn công hông, nhưng phải
trèo qua cái villa kế bên. Tôi gặp bà đầm người Đức nói tiếng Việt, nghe
toi xin phép cho dùng villa, bà dẫn tôi vào gặp phu quân, đó là Trung
Tướng Dương Văn Đức, một vị tướng nổi tiếng, ông căn dặn chúng tôi phải
cẩn thận.
Từ ngày 7/2 đến 7/3: Nguyên 1 tháng trời, ĐĐ.1 được
giao nhiệm vụ phòng thủ ở Bưu Điện Saigon kế bên nhà thờ Đức Bà và đài
phát thanh Phan Đình Phùng. Tuy được ưu đãi, nhưng thật là gò bó, trên
trông xuống, ngoài trông vào, dù cho có giữ kỷ luật tối đa nhưng vẫn
không sao tránh khỏi bị rầy. Nhưng dân chúng thì rất thương và yêu Trâu
Điên, dành mọi ưu ái và tiện nghi cho vị trí đóng quân, nhưng ông CT thì
cứ cám ơn rồi bắt đám nghé chúng tôi “ngủ đường”. Vậy mà cũng có vài
chàng nhận nơi đây làm “quê ngoại”, còn Tr/Tá Vũ Đức Vinh, Giám Đốc đài
phát thanh thì tặng ĐĐ.1 một tấm plaque bằng đồng ghi chữ: “Cám ơn
ĐĐ.1/TĐ.2 TQLC hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” ( sau này CT cho treo ở văn
phòng đại đội).
Tr/Tá Giám Đốc Vinh giao cho chúng tôi nhiệm vụ kiểm soát thật chặt chẽ mọi người ra vào đài phát thanh, kể cà nam nữ nhân viên và ca sĩ. Không cho bất ai vào thăm đài trừ khi Tr/Tá Giám Đốc báo cho biết trước. Chỉ có thế thôi chứ có đánh đấm gì đâu mà xuất sắc, có lẽ do chúng tôi đứng đắn với phụ nữ và không cho Trung Tướng kiêm Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Đôn vào thăm đài vì không có báo trước., ông tướng cùng đoàn tùy tùng hậm hực quay lui. Có thể “xuất sắc” do đẩy lui được 1 cuộc tấn công của VC như báo chí đăng tin. Chuyện này nói ra chắc ông CT bực mình lắm đây, nhưng đã 45 năm qua rồi “hồ sơ mật” nên bật mí. B1 Thủy xạ thủ súng cối chui rào đi chơi, nửa đêm quay về chui rào kẽm gai vào bị lính gác bắn chết. Nghe súng nổ, giám đốc đài phát thanh gọi máy hỏi, bên cục ANQĐ cũng hỏi, bực quá ông CT gắt “VC tấn công”. Tưởng nói cho xong, ai ngờ họ hụ còi báo động. Lỡ trớn, chơi luôn, CT cho hướng súng vào đài và ANQĐ nổ vài tràng “cắc bù”, những tiếng nổ kiểu này đúng là của VC. Sáng hôm sau báo chí Saigon được giám đốc dài dẫn đến quan sát “chiến trường” rồi loan tin:
Tr/Tá Giám Đốc Vinh giao cho chúng tôi nhiệm vụ kiểm soát thật chặt chẽ mọi người ra vào đài phát thanh, kể cà nam nữ nhân viên và ca sĩ. Không cho bất ai vào thăm đài trừ khi Tr/Tá Giám Đốc báo cho biết trước. Chỉ có thế thôi chứ có đánh đấm gì đâu mà xuất sắc, có lẽ do chúng tôi đứng đắn với phụ nữ và không cho Trung Tướng kiêm Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Đôn vào thăm đài vì không có báo trước., ông tướng cùng đoàn tùy tùng hậm hực quay lui. Có thể “xuất sắc” do đẩy lui được 1 cuộc tấn công của VC như báo chí đăng tin. Chuyện này nói ra chắc ông CT bực mình lắm đây, nhưng đã 45 năm qua rồi “hồ sơ mật” nên bật mí. B1 Thủy xạ thủ súng cối chui rào đi chơi, nửa đêm quay về chui rào kẽm gai vào bị lính gác bắn chết. Nghe súng nổ, giám đốc đài phát thanh gọi máy hỏi, bên cục ANQĐ cũng hỏi, bực quá ông CT gắt “VC tấn công”. Tưởng nói cho xong, ai ngờ họ hụ còi báo động. Lỡ trớn, chơi luôn, CT cho hướng súng vào đài và ANQĐ nổ vài tràng “cắc bù”, những tiếng nổ kiểu này đúng là của VC. Sáng hôm sau báo chí Saigon được giám đốc dài dẫn đến quan sát “chiến trường” rồi loan tin:
_ “Đêm qua VC lại tấn công đài phát thanh, nhưng đã
bị quân ta đẩy lui, chúng để lại nhiều vết máu và 1 cây K54, bên ta 1
chiến sĩ hy sinh”.
Vết máu là của B1 Thủy, những vỏ đạn AK rơi vãi là vỏ
đạn AK cũ mà VC tấn công vào đài phát thanh mấy hôm trước, cây K54 là
của CT, ông đưa ra cho các phóng viên xem.
Ngày 11/3 TĐ.2 di chuyển xuống Vùng 4, đóng quân tại
Rạch Ngỗng, ngoại ô Cần Thơ rồi hành quân vùng phi trường Trà Nóc, Thuận
Nhân. Trở lại Vĩnh Long, hành quân Giáo Đức, hành quân với Mỹ, hành
quân Giồng Trôm, tiếp viện cho Trung Đoàn 10/SĐ.7.
Ngày 4/5 di chuyển cấp tốc về Saigon tham dự MT đợt 2
kể từ ngày 5/5. TĐ.2 đổ quân xuống ngã tư Minh Phụng-Hậu Giang, Phú
Định Chợ Lớn.
Ngày 6/5: ĐĐ.1 và 4 di chuyền về Gò Vấp, hành quân
vùng Lê Quang Định, chùa Dược Sư, rạp cine’ Đông Nhì, VC chết nhiều. CT
ra lệnh kéo xác VC tập trung vào sân villa của một Th.Tá/KQ, vì ông này
không muốn cho đặt súng đại liên trên tầng thượng nhà lầu của ông.
Ngày 8/5: ĐĐ.2/TĐ.2 của Đệ Đức tại đường Hậu Giang,
Chợ Lớn bị VC bao vây tấn công, ĐĐ.1 và ĐĐ.4 từ Gò Vấp cấp tốc quay lại
Hậu Giang Phú Định để giải vây cho ĐĐ.2. Sau 3 ngày 2 đêm “kịch chiến”,
TĐ.2 đã thanh toán mọi hang ổ VC tại vùng này, kiểm soát an ninh tới Mũi
Tàu Phú Lâm. Phải thú thật là 3 ngày này dài như 3 tháng. Thấy B40 bắn
bay đầu pháo thủ trên M41 mà rùng mình, Hạ Sĩ Ninh mang máy truyền tin
trước ngực cũng bị đạn xuyên qua máy trổ ra sau lưng gục xuống! Gay cấn
nhất là CT ra lệnh cho trgđ của tôi phải cứu cho bằng được Chuẩn Úy Hồng
của ĐĐ.2 và mấy đệ tử đang bị VC bao vây trong một khu cao ốc mà chung
quanh là khu sinh lầy, những nhà sàn cháy, phải bò dưới sình mới vào gần
được mục tiêu. Cuối cùng chỉ cứu được Ch/Úy Hồng còn mấy đệ tử của ổng
hy sinh. Tôi có nhiều kỷ niệm nhớ đời về trận đánh kéo dài liên tục gần 3
ngày đêm này, thật đáng “đồng tiền bát gạo” khi mang danh Trâu Điên,
hãnh diện với Trâu Điên nhưng tốn nhiều máu, mồ hôi và nước mắt.
Tình hình đã yên, các đại đội thuộc TĐ.2 tiếp tục
hành quân lục soát, chiếm đóng các điểm quan trọng, riêng ĐĐ.1 lại được
ưu ái đóng quân giữ an ninh dọc xa lộ SG-Biên Hòa, cầu Phan Thanh Giản,
cầu Saigon, tới ngã ba Giồng Ông Tố, Ciment Hà Tiên. Có lúc vào tới Cát
Lái, ấp Phú Hữu v.v.. nhưng tất cả bình yên. Khi đóng quân tại khu vực
Ciment Hà Tiên và kho tồn trữ vật liệu Thủ Đức thì bị ông CT kìm kẹp
quá, “không nhậu, không lang thang”! Nhưng nhờ vậy mà tránh được chuyện
lôi thôi với QC Tư Pháp như đơn vị sau đến thay thế khiến vài chàng gặp
nạn phải đi tu huyền.
Ngày 14/9/68: Đụng trận Cầu Khởi.
Sau mấy tháng trời chạy lòng vòng khắp Saigon, từ
trung tâm đến ngoại ô, tới trung tuần tháng 9/68, Trâu Điên di chuyển
lên Tây Ninh, đóng quân tại ấp Nhà Việt, quận Khiêm Hanh. Không khí
trong quận nhộn nhịp, cỏ vẻ chuẩn bị cho một cuộc hành quân lớn, mấy ông
già đầu bạc 155 tuổi bị kéo ra gióng hàng phơi nắng. Tối 13/9 CT gọi
lên họp:
_ “Lệnh cho ĐĐ.1 nhảy diều hâu, chọn đủ 90 người khỏe
mạnh chia làm 3 trung đội, 1 ngày cơm vắt, trang bị nhẹ, sẵn sàng tại
bãi bốc lúc 7AM ngày 14/9, về trong ngày”.
LZ là một bãi trống rộng hơn sân đá banh, nằm giữa
rừng và đồn điền cao su Vên-Vên, trực thăng đổ quân phía Nam bãi trống
gần cây cầu “Cầu Khởi”, nước ngập ngang đầu gối, cỏ và lác cản đường
tiến quân, nhưng Trâu không sợ cỏ sợ nước nên ào vào rừng cao su an
toàn. CT nhắc các trgđ trưởng định điểm đứng. Ổng thường bất chợt hỏi
trung đội: “cho anh xin số nhà”.
Dàn đội hình, di chuyển được chừng 500m thì súng nổ,
ba bề “rừng lá thấp” di chuyển ngược chiều bao lấy Trâu Điên. Trong
những trận trước, tôi đã thấy VC nằm ngồi đủ kiểu, nhưng đây là lần đầu
tiên tôi nhìn rõ VC chạy lom khom đến, thú thật tôi “lạnh người”.
Liếc mắt nhìn quanh, thấy anh em đang nắm sát sau gốc
cây cao su bắn lại, CT và Tây Đô đang di chuyển tới lui khiến tôi an
tâm. CT và cố vấn đang “xí xồ”, rồi pháo binh chụp xuống, có lúc cứ
tưởng như đạn chụp lên chính mình. Bây giờ tôi mới hiểu “cho anh xin số
nhà”, biết mình đứng ở vị trí nào là quan trọng, nhờ đó PB đến đúng lúc
và chính xác khiến “rừng cây” khựng lại, cành cây cao su gẫy đổ ụp xuống
cũng đủ làm chúng tả tơi.
Có lẽ Đồ Sơn biết được tình trạng nguy kịch của đứa
con đi xa nên đã cung cấp thuốc men nhanh chóng và tối đa, sau PB là tới
Cobra, rổi B.57. Một phần có lẽ cố vấn nhìn thấy rõ sự an nguy của bản
thân nên ông ta gào khiến Cobras, gunships liều mình cứu c..ố vấn.
Khi hỏa lực yểm trợ ngưng thì VC lại tiến tới như cố
bám sát, cố “trộn trấu” để sống chung không hòa bình. Nhưng Trâu Điên
đếch chơi, ranh giới bạn thù rõ ràng, nằm sau gốc cao su bắn chính xác,
“mỗi viên là mỗi quân thù”, đã có lúc phải dùng đến mãng cầu gai.
Trận chiến giằng co, bên ta đã có tử có thương, phải
công nhận là nhờ hỏa lực yểm trợ nhanh chóng chính xác và đầy đủ nên
Trâu Điên mới lập lại thế quân bình và đứng vững, nhưng vì nhảy diều
hâu, trang bị nhẹ, nếu tiếp tục thì e sức Trâu không kham nổi đoạn đường
dài.
_ “Tiểu đoàn nhẩy vào tiếp viện”.
CT chỉ thông báo vắn tắt như thế, nhưng như một luồng
thuốc hồi sinh, lan nhanh khắp thân thể 90 Nghé Điên ĐĐ.1, tôi thấy họ
cười như muốn tiến lên và đúng như thế, một Nghé con của tđ Trung Sĩ
Tráng đã vụt chạy lên ôm cây B.40 về, cậu ta làm như sợ mất phần.
Súng đã nổ phía sau lưng địch, CT báo cho biết là
ĐĐ.2 của Đệ Đức đang tiến tới để bắt tay với ĐĐ.1. Trung đội đi đầu là
Ch/Úy Hồng, anh bảo tôi quan sát kỹ để tránh ngộ nhận. Lại gặp cố nhân,
mới mấy tháng trước, tôi đến cứu Hồng ở đường Hậu Giang CL thì lần này
Hồng đến cứu tôi trong rừng cao su Vên-Vên.
Súng vẫn nổ, nhưng cường độ giảm dần phía chúng tôi
mà rộ lên ở hướng Tiểu Đoàn, hướng ĐĐ.2. Trời chiều trong rừng mau tối,
lợi dụng lúc thưa tiếng súng, CT ra lệnh các trung đội bắt tay nhau quây
vòng tròn dựa theo gốc cao su mà phòng thủ. Anh nói nhỏ cho tôi biết
ĐĐ.2 khó mà bắt tay với chúng tôi, Ch/Úy Hồng tử thương rồi và còn nhiều
người khác bị thương nữa, như vậy đêm nay chúng tôi “cô đơn”.
Đúng là TQLC (Hồng) sống hùng sống mạnh nhưng không
sống lâu, bao giờ tới phiên tôi? Nhìn mấy Mũ Xanh của tôi sáng nay còn
cười nói, trưa nay còn hò hét, giờ đã ngủ yên bên gốc cao su mà lòng tôi
bâng khuâng. Khó xử nhất là mấy anh em bị thương mà chưa tải được,
trong đó có Ch/Úy Hóa già, ông là TQLC khi tôi còn thò lò mũi. Ông bị
bắn vào bẹn, không mất cu, nhưng nó sưng tù zù, “anh hùng đông khái, anh
hùng tiêu”, anh Hóa không đái được, kêu quá. CT hối CV xin tải thương
thì CV cho biết phải tải thương xong bên TĐ (-) rồi mới tới ĐĐ.1.
Bằng mọi giá phải tải thương, nhưng trong rừng cao su
làm sao tìm ra bãi đáp? CT bảo tôi cho người bò ra trảng trống, nơi hồi
sáng có VC phục kích dò tình hình an ninh bãi đáp. VC chúng đã bỏ đi,
hầm hố còn lại, chuyển dần thương binh ra đó chờ. Trời tối không nhìn rõ
người thì trực thăng đến, bốc hết thương binh và CV Mỹ … teo cũng theo
trực thăng đi luôn.
Đêm đen như mực, PB vẫn nổ bao quanh, hỏa châu soi
sáng, Trâu Điên nằm yên nắm tay nhau phòng thủ đêm theo vòng tròn với
mật lệnh và mật hiệu:
_ “Ai đứng, ai đi, ai di chuyển thì bị bắn ngay”.
VC lưỡng đầu thọ.. Trâu Điên, tẩu vi thượng sách nên
chúng tôi nằm im nghe tiếng đạp lên lá rừng khô xa dần. Một con “nai
vàng ngơ ngác” đi lạc vào chuồng Trâu bị Trung Đội Phó Trgđ 12 là Tr/Sĩ I
Trần Sịa cho một dao găm trúng tim không kịp ngáp. Xác VC nằm bên tử
thi TQLC như “sống chung hòa bình”. Qua một ngày một đêm lạnh người, có
lúc tưởng chừng như bị tràn ngập, chỉ có phép lạ mới đứng vững. Phép lạ ở
đây chính là tinh thần quyết chiến và kỷ luật tác chiến của TQLC nói
chung và Trâu Điên nói riêng. Sáng hôm sau chúng tôi đã bắt tay được với
ĐĐ.2 và cả gia đình nhà Trâu cùng đoàn tu.(cho hình các HSQ đại đội 1.
Ghi chú theo thứ tự từ trái sang phải: TS1 Môn, TS1 Tràn Sịa, TS Trần
Tráng, Th/Sĩ Cương)
Ngày 17/9/68. Đụng trận Bời Lời
Ba ngày sau trận Cầu Khởi thì TĐ.2 nhẩy trực thăng
xuống mật khu Bời Lời, vì ĐĐ.1 vừa bị sứt móng tại Cầu Khởi nên lần này
được tiểu đoàn cho nhẩy sau cùng. Đội hình tiểu đoàn ngoài bãi bốc đã
sẵn sàng theo thứ tự từ đầu đến đuôi là ĐĐ.4, ĐĐ.2, BCH/TĐ, ĐĐ.3 rồi tới
ĐĐ1. Trực thăng đang trên đường đến bốc ĐĐ 4 và 2 thì vị trí này bị mất
an ninh, chuồn chuồn không thể xuống được nên tiểu đoàn thay đổi kế
hoạch, bốc “cái đuôi” đi trước, thế là ĐĐ.1 lại lên TT trước và nhẩy
xuống đầu tiên rồi tới ĐĐ.3.
Hai đại đội 1&3 vừa xuống đến bãi đáp thì đụng mù
trời, VC có cả phòng không, bãi đáp không còn dùng được nữa, Tiểu Đoàn
(-) không thể tiếp tục đồ quân, thế là 1 và 3 dựa lưng nhau mà chiến đấu
suốt ngày đêm cho đến sáng hôm sau. Ngay cả khi tiểu đoàn xuống thì vẫn
còn VC chạy trên bãi đáp, sáng rồi mà Hạ Sĩ 1 Thà, mang máy của CT, còn
bị tử thương vì B.40. Cowboy Tha của ĐĐP Tây Đô còn bị bắn chết.
Phải nói đây là trận khá nặng, nhưng nhờ có thêm ĐĐ.3
nên tôi bớt “lạnh cẳng” hơn hôm ở Cầu Khởi. Với phạm vi trung đội, tôi
không thể nói hết nó nặng như thế nào, chỉ xin kể chuyện thay mấy cố vấn
(CV) cũng đủ biết. (thường thì CV đi với TĐP, nhưng trận này TĐP đi
học).
Vừa xuống là đụng nặng khiến CV bị “xỉu”, phải tải
thương gấp, người CV thứ 2 được thả xuống thay thế thì bị thả lạc vào
hướng tuyến VC, không biết sống hay chết hoặc đã bị VC bắt. Đây là vấn
đề gay go và rắc rối cho Trâu Điên 1. Đã có nhiều trường hợp chỉ vì xác
một phi công Mỹ mà đơn vị đi cứu lãnh hậu quả khó lường, như Bình Giả
chẳng hạn. Ở đây lại chính là CV được gửi đến cho đơn vị mình. Không
biết CT nhận lệnh từ trên đi cứu CV ra sao, nhưng tôi thấy anh chần chừ,
có vẻ như “câu giờ” để suy tính.
Vừa lúc đó Hạ Sĩ 1 Đường, “cận vệ” của CT, dùng ống
nhòm phát giác ra dấu hiệu nghi ngờ vị trí CV nằm ở bìa rừng, trước
tuyến VC. CT ra lệnh tập trung ngay 9 cây M79 của cả 3 trung đội lại và
M60 nữa, tất cả sẽ tác xạ tối đa và liên tục vào tuyến VC và chỉ dùng 2
“cowboy” của đại đội trưởng để đi tìm CV hầu giảm thương vong.
Những cây M79 và M60 “tàn sát” tuyến VC và bảo đảm an
toàn cho Đường và Hợi bò lên vị trí nghi ngờ… và thật may mắm, đúng là
CV, anh ta đã đưa tay lên vẫy vẫy. Anh ta bị thương, Đường cõng CV chạy
về**, Hợi theo sau bảo vệ, các cây M79 vẫn làm việc. CV ướt sũng vì nẳm
dưới cỏ và nước, anh ta bị bắn tét nách, toán đi cứu không bị thiệt hại
gì, chỉ tốn khá nhiều đạn M79. Dùng đạn Mỹ để cứu CV Mỹ là hợp tình hợp
lý để giảm thiểu thiệt hại cho quân ta, tôi chịu lối làm việc này của
ông khó tính CT.
CV Mỹ bị thương dĩ nhiên là phải tải thương ngay và
một CV thứ 3 xuống thay thế, ông này mang cấp bậc “lá đu đủ”, chinh nhờ
Th/tá CV này mà những Cobras làm việc hết mình, yểm trợ sát tuyến rất
hiệu hiệu quả. Đêm đó ĐĐ.1 và ĐĐ.3 nằm tại chỗ phòng thủ, trên trời hỏa
long và chiếu sáng làm việc, Chiến Đoàn Trưởng Saigon, Tiểu Đoàn Trưởng
Đồ Sơn và B3 Lâm Đồng liên tục bay trên mục tiêu để yểm trợ tinh thần và
hướng dẫn cho 2 thằng con dưới đất làm việc. Quả thật tiếng nói của cấp
chỉ huy rất quan trọng trong lúc đụng trận.
(**Sau thành tích cứu CV này, HS1 Đường được phòng Chính Huấn SĐ/TQLC của Th/Tá Lê Đình Bảo tặng cho 1 xe Honda và được 1huy chương Hoa Kỳ Bronze Star, nhưng rất đau thương là sau đó Đường đã hy sinh trên chiến trường Cămpuchia.)
(**Sau thành tích cứu CV này, HS1 Đường được phòng Chính Huấn SĐ/TQLC của Th/Tá Lê Đình Bảo tặng cho 1 xe Honda và được 1huy chương Hoa Kỳ Bronze Star, nhưng rất đau thương là sau đó Đường đã hy sinh trên chiến trường Cămpuchia.)
Ngày 19/9/68: Khoảng 8 giờ sáng ngày hôm sau, mặc dù
M16 và AK còn đì đùng, sương mù và khói súng bao phủ LZ, TĐ (-) cũng
xuống hết an toàn, vì không còn nghe tiếng súng phòng không như sáng hôm
trước. Khoảng 9 giờ thì thấy Đồ Sơn đưa ông Tướng Nhẩy Dù, tổng chỉ huy
cuộc hành quân này, đến ngay tuyến ĐĐ.1 để xem xác VC và ủy “nạo” quân
ta.
Dọn dẹp chiến trường, tải thương, tải chiến lợi phẩm
và tái tiếp tế xong thì “tà tà bóng ngả về Đông”, lệnh cho đóng quân tại
chỗ. Vừa trải tuyến xong, đong đưa trên võng với bịch cơm xấy, thịt 3
lát thì ông CT gọi:
_“Cuốn chiếu gấp, di chuyển ngay để B52 trải thảm vùng này”.
Chán vô cùng, mờ mờ tối rồi, càng nản thêm khi CT bắt
tôi di chuyển trước tiên, giữ song song với trung đội đầu của ĐĐ.2. Tại
sao lại cứ trung đội tôi đi đầu mãi thế này? Nhưng không còn thì giờ
cãi, thi hành trước, khiếu nại sau. Mò mẫm trong bóng tối tranh sáng
giữa rừng già chừng 300m thì súng nổ bên ĐĐ.2 rồi tới tôi, tiểu đội
trưởng đi đầu là Hạ Sĩ Nam báo:
_ B1 Hồng Hải kí-lô, có nhiều hố mới, nhiều dây điện thoại v.v..
Trâu Điên lại bị “trên búa dưới đe” đây rồi, trên búa
B52, dưới đe VC, tôi báo mọi việc cho CT xong, việc quan trọng là làm
sao kéo được Hải về mà không dính thêm, thời gian như ngừng trôi, đêm
lạnh mà mồ hôi trán vã ra, dù CT không hối, ông chẳng bao giờ hối các
trung đội trưởng, ưu tiên là hạn chế thương vong. Vừa kéo được xác Hải
về thì tôi được lệnh quay lại vị trí phòng thủ lúc ban chiều.
Mừng hết lớn, tôi không biết cấp trên giải quyết vụ
B52 thế nào, nhưng được quay về vị trí phòng thủ cũ có sẵn hầm hố là vui
rồi, dù có bao nhiêu VC đến tấn công đêm cũng chấp, hơn là phải di
chuyển trong bóng tối giữa rừng già mà còn bị VC tấn công thì “chết
chắc”.
Kể từ sau trận Bời Lời ngày 19/9/68, Trâu Điên cày tiếp những đâu?
Hành quân Bưng Đỉa, Bình Dương, mật khu Tân Uyên, mật
khu Mây Tàu, Bình Tuy. Di chuyển xuống Vùng 4, Hỏa Lựu Chương Thiện,
kinh Xáng Cụt, Gò Quao, quận Kiên Hưng, xuống Xẻo Rô, quận Kiên An, đi
tới chân núi Tri Tôn, trở lại Rạch Sỏi, Rạch Giá, xuống tàu hành quân
dọc theo sông Trèm Trẹm, U Minh Thượng, U Minh Hạ.
Ngày 25/12/68:
Đi Cà Mau, Chương Thiện, đóng quân tại ngã ba Cái Tắc QL4 rồi đi chuyển về Saigon, hậu cứ Thủ Đức, chuẩn bị đón Xuân mới, Tết 1969.
Sau Tết, hành quân Suối Máu, Lò Than, Biên Hòa, đi Trảng Bôm, suối Nước Trong, Long Thành và chính tại nơi đây, ngày 20 tháng 4 năm 1969, tôi từ giã Trâu Điên, từ giã Trung Đội 14/ĐĐ.1/TĐ.2/TQLC., từ giã những người anh em thân thiết nhất của tôi.
Đi Cà Mau, Chương Thiện, đóng quân tại ngã ba Cái Tắc QL4 rồi đi chuyển về Saigon, hậu cứ Thủ Đức, chuẩn bị đón Xuân mới, Tết 1969.
Sau Tết, hành quân Suối Máu, Lò Than, Biên Hòa, đi Trảng Bôm, suối Nước Trong, Long Thành và chính tại nơi đây, ngày 20 tháng 4 năm 1969, tôi từ giã Trâu Điên, từ giã Trung Đội 14/ĐĐ.1/TĐ.2/TQLC., từ giã những người anh em thân thiết nhất của tôi.
Chuyện tôi giã từ Trâu Điên cũng gian nan rắc rối chứ
không dễ dàng gì và hoàn toàn do “cái số” chứ chẳng có quái nhân hay
thân nhân nào làm lớn bên KQ. Xin tóm tắt như thế này:
Trước đó TQLC phổ biến văn thư cho phép các ch/úy và
th/úy được nạp đơn thuyên chuyển về Không Quân vì họ đang cần nhiều sĩ
quan, tôi và một số anh em cũng cứ nạp đại rồi mải miết hành quân mà
quên đi, cũng đôi lần gọi về khám sức khỏe rồi bỏ đó. Sáng 20/4/69, đang
hành quân ở Long Thành thì CT trao cho tôi giấy báo của B1/TĐ gọi về
trình diện KQ và anh cho tôi đi phép “miệng” ngay. Không chần chừ, vì từ
Long Thành tự túc đón xe đò về Saigon không khó, tôi vọt liền. Khi về
đến Saigon, khoảng 3 tiếng đồng hồ sau, thì tôi biết TQLC đã hủy bỏ lệnh
cho các sĩ quan TQLC về KQ. Những anh nào hành quân xa, chờ phương
tiện, đơn vị cấp phép theo thủ tục, theo hệ thống quân giai, cấp chỉ huy
chần chừ là coi như “xôi hỏng bỏng không”, vì thế đại đa số những người
làm đơn như tôi đều lọt sổ, chỉ có một mình tôi (hình như có một người
khác nữa) là lỡ đi trước lệnh thu hồi thì …cho đi luôn. Tôi biết hậu quả
việc CT cho phép “miệng” tôi đi ngay là không tránh khỏi bị rầy rà.
Hăm hở xin về với TQLC chưa được bao lâu lại vội vàng
xin rời màu áo Rằn Ri quả thật lòng tôi áy náy vô cùng, đôi khi mang
tâm trạng “phản bội” người tình lý tưởng. Nhưng thực tế có những lý do
dù lòng không muốn nhưng chân vẫn bước đi. Chỉ trong vòng 16 tháng với
Trâu Điên mà tôi trải qua những giờ phút nghẹt thở, chứng kiến những
người anh em ra đi quá nhanh và không toàn thây, ranh giới tử sinh của
TQLC chỉ cách một đường tơ và tôi đã nhiều lần được nằm bên ranh giới sự
sống. Chỉ trong vòng một năm mà tôi được tham dự những trận đánh ngoài
sức tưởng tượng của tôi như trận Cái Thia, trận Mậu Thân ờ Saigon, trần
Cầu Khởi-Bời Lời, cả 3 trận này hiệu kỳ của TĐ.2/TQLC đều được tuyên
dương công trạng trước Quân Đội.
Xin các anh em Trung Đội 14/ĐĐ.1 nói riêng và Trâu
Điên nói chung, thông cảm cho việc tôi đã “sang ngang”. Về KQ, làm việc
với KQ tôi mới thấy sự khác biệt giữa 2 nơi khiến tôi càng cảm phục sự
hy sinh quá mức của anh em trong Binh Chủng Tồng Trừ Bị như TQLC. Các
anh đi khắp mọi miền đất nước, cụ thề là cá nhân tôi chỉ trong vòng một
thời gian ngắn mà tôi đi hành quân quá nhiều địa danh, nếu không ghi
nhật ký hành quân thì không sao nhớ hết. Các anh đi nhiều, hy sinh
nhiều, nhưng quyền lợi chẳng bao nhiêu, nói thẳng là các anh chẳng có gì
ngoài tiền lương tháng chỉ đủ tiêu 1 tuần, gia dình vợ con ở nhà tự mưu
sinh. Ngay cả những quyền lợi chính đáng được quy định của BTTM cho một
quân nhân là “đi phép” mà vẫn bị cắt đầu trừ đuôi với đủ những lý do
linh tinh mà lính hiểu thì .. “chết liền”. Một quân nhân có phép “vo de”
vẫn bị chờ sau chuyến hành quân và trong chuyến hành quân ấy anh đã “đi
phép vĩnh viễn” là những trường hợp rất thường thấy.
Không cần so sành nhiều, chỉ việc đi phép thôi, tôi
cũng đã phục sức chịu đựng của các anh rồi. Nhưng trên hết, vì nhiệm vụ
của một quân nhân tổng trừ bị, vì màu áo binh chủng, vì tình đồng đội mà
các anh không quan tâm tới gì khác. Tôi đã không làm được như các anh,
xin mượn dòng nhật ký hành quân này để đứng nghiêm chào và kính phục tất
cả các Cọp Biển “thanh tâm thường an lạc”
Cựu Trâu Điên
Vị Quang Hoàng.
Vị Quang Hoàng.
http://hung-viet.org/blog1/2013/03/07/nhat-ky-hanh-quan-trung-doi/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
